Từ khi Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 có hiệu lực, việc định tội danh đối với hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật đặt ra một yêu cầu nhận thức mới: Phải phân biệt giữa vật dụng sinh hoạt trong “trạng thái thông thường” với công cụ đã được pháp luật định danh đặc biệt khi được “sử dụng vào mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe”.
Bài viết này bình luận, trao đổi học thuật đối với 02 bài viết đã được đăng trên Tạp chí Tòa án điện tử, đồng thời phân tích Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15, Điều 304 – Bộ luật Hình sự 2015 và các văn bản hướng dẫn có liên quan, nhằm làm rõ khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” trong trường hợp có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
1. Đặt vấn đề:
Từ 02 bài viết trên Tạp chí Tòa án điện tử đến “sự cần thiết” bình luận khoa học pháp lý.
Ngày 07/01/2026, Tạp chí Tòa án điện tử đăng bài “Vướng mắc khi xác định tội danh sử dụng trái phép vũ khí quân dụng trong các vụ án cố ý gây thương tích, giết người” của tác giả Nguyễn Hữu Hiệp, KSV trung cấp – VKS quân sự Quân khu 2: [https://tapchitoaan.vn/vuong-mac-khi-xac-dinh-toi-danh-su-dung-trai-phep-vu-khi-quan-dung-trong-cac-vu-an-co-y-gay-thuong-tich-giet-nguoi14751.html]
Bài viết nêu tình huống người phạm tội sử dụng dao có tính sát thương cao, như dao bầu hoặc dao làm bếp, để xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác; từ đó đặt vấn đề có hay không việc truy cứu thêm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo Điều 304 Bộ luật Hình sự bên cạnh tội “Giết người” hoặc tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.
Ngày 12/01/2026, Tạp chí Tòa án điện tử tiếp tục đăng bài “Nguyễn Văn A chỉ phạm tội Giết người không phạm tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” của tác giả Hoàng Thùy Linh, Tòa án quân sự Quân khu 7: [https://tapchitoaan.vn/nguyen-van-a-chi-pham-toi-giet-nguoi-khong-pham-toi-su-dung-trai-phep-vu-khi-quan-dung.html]
Ngay phần mở đầu bài viết, tác giả (Thùy Linh) cho biết đã nghiên cứu bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Hiệp đăng ngày 07/01/2026 và đồng ý với “quan điểm thứ hai” được nêu trong bài viết đó: Nguyễn Văn A chỉ phạm tội “Giết người”, không phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Như vậy, hai bài viết không tồn tại một cách rời rạc. Bài thứ nhất nêu ra các luồng quan điểm khác nhau và tác giả lựa chọn một hướng trung gian; bài thứ hai “kế thừa” trực tiếp cuộc trao đổi ấy và công khai “tán đồng” một trong các quan điểm đã được đặt ra trong bài thứ nhất. Chính mối liên hệ này làm cho việc bình luận trở nên cần thiết, không phải để đánh giá đối với cá nhân tác giả, mà để kiểm định tính đúng sai của một cách hiểu pháp luật đang được trình bày trên diễn đàn chuyên ngành.

“Từ 01/01/2025, dao có tính sát thương cao khi sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật được coi là vũ khí quân dụng” – Ảnh minh họa
Bài viết này không nhằm tán đồng hay phản đối một cá nhân cụ thể. Vấn đề cốt lõi là: Quan điểm cho rằng người sử dụng dao có tính sát thương cao để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật chỉ phạm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe mà không phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” có phù hợp với câu chữ điều luật, cấu trúc quy phạm, lý luận định tội danh và các văn bản hướng dẫn hiện hành hay không? Nếu quan điểm đó đúng thì cần chỉ ra vì sao đúng; nếu sai thì phải chỉ ra sai ở điểm nào, sai do cách hiểu nào và hệ quả pháp lý của cách hiểu ấy là gì? Đó mới là giá trị thực chất và mục đích chính mà bài viết này hướng đến.
2. Tóm lược quan điểm của hai bài viết được bình luận.
2.1. Bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Hiệp – Quân khu 2:
Bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Hiệp nêu ra 03 quan điểm xử lý đối với trường hợp người phạm tội “sử dụng dao có tính sát thương cao” để gây thương tích hoặc tước đoạt tính mạng người khác.
Quan điểm thứ nhất, cho rằng: Cần xử lý đồng thời tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Quan điểm thứ hai, cho rằng: Chỉ xử lý tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, vì dao làm bếp hoặc dao sinh hoạt không có cơ chế cấp phép sử dụng; đồng thời việc giám định chỉ có thể kết luận đó là dao có tính sát thương cao, không phải vũ khí quân dụng theo Phụ lục I của Thông tư số 75/2024/TT-BCA.
Quan điểm thứ ba, cũng là quan điểm mà tác giả Nguyễn Hữu Hiệp lựa chọn, là: Cần phân hóa theo nguồn gốc, mục đích ban đầu khi có được dao và việc dao có bị cải tạo, thay đổi công năng hay không.
Theo quan điểm thứ ba này, nếu người phạm tội “cải tạo” dao để tăng tính sát thương hoặc ngay từ đầu “mua, chuẩn bị dao nhằm mục đích đi gây án” thì có thể xem xét tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Ngược lại, nếu con dao vốn là vật dụng lao động, sản xuất, sinh hoạt hằng ngày, sau đó do mâu thuẫn bộc phát mà được sử dụng để gây án, tác giả đã cho rằng không nên xử lý thêm theo Điều 304 Bộ luật Hình sự. Cơ sở mà tác giả nhấn mạnh là nguy cơ xử lý “tràn lan” nếu mọi trường hợp dùng dao gây án đều bị xem xét tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
2.2. Bài viết của tác giả Hoàng Thùy Linh – Quân khu 7:
Bài viết của tác giả Hoàng Thùy Linh còn đi xa hơn. Tác giả đã đồng ý luôn với quan điểm thứ hai được nêu trong bài của tác giả Nguyễn Hữu Hiệp, tức là cho rằng: Nguyễn Văn A chỉ phạm tội “Giết người”, không phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Lập luận trọng tâm của bài viết là: Dao có tính sát thương cao không mặc nhiên là vũ khí quân dụng; Phụ lục I của Thông tư số 75/2024/TT-BCA là “danh mục vũ khí quân dụng”, còn Phụ lục V là “danh mục dao có tính sát thương cao”; vì vậy, nếu vật chứng chỉ thuộc Phụ lục V thì không thể coi là vũ khí quân dụng. Tác giả cũng lập luận rằng trong tình huống Nguyễn Văn A dùng dao để tước đoạt tính mạng người khác, dao chỉ là phương tiện thực hiện tội “Giết người”, còn toàn bộ tính nguy hiểm cho xã hội đã được phản ánh trong cấu thành tội “Giết người”.
Cần lưu ý cho chính xác: Bài viết của tác giả Hoàng Thùy Linh không trực tiếp viện dẫn nguyên tắc “không xử lý hai lần đối với cùng một tội phạm”. Tuy nhiên, lập luận cho rằng dao chỉ là phương tiện thực hiện tội “Giết người” và không làm phát sinh hành vi độc lập xâm phạm chế độ quản lý vũ khí quân dụng – của tác giả Thùy Linh – thực chất sẽ dẫn đến hệ quả phủ nhận khả năng xử lý đồng thời 02 tội danh. Đây là điểm cần được trao đổi trực diện bằng lý luận về cấu thành tội phạm, khách thể bị xâm phạm và phạm vi điều chỉnh của Luật số 42/2024/QH15.
3. Căn cứ pháp lý hiện hành cần được đặt đúng vị trí.
Cả 02 bài viết đều viện dẫn hoặc phân tích “Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024”, nhưng không ghi rõ số hiệu của đạo luật này. Để bảo đảm tính chính xác khi bình luận, cần xác định và bổ sung đầy đủ đây là Luật số 42/2024/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025.
Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15 quy định, vũ khí quân dụng bao gồm: Súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và dao có tính sát thương cao quy định tại Khoản 6, Điều 2 khi các công cụ này được “sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người” trái pháp luật. Khoản 6, Điều 2 cùng luật quy định, dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành. Cấu trúc quy phạm này cho thấy đạo luật mới không chỉ mô tả “đặc tính vật lý” của công cụ, mà còn thiết lập một cơ chế định danh pháp lý theo “mục đích sử dụng” cụ thể.
Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, ban hành các phụ lục danh mục vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ và dao có tính sát thương cao. Điều 6 của Thông tư phân định rõ: Phụ lục I là danh mục vũ khí quân dụng theo điểm b khoản 2 Điều 2 Luật số 42/2024/QH15, còn Phụ lục V là “danh mục dao có tính sát thương cao” theo khoản 6 Điều 2 của Luật. Như vậy, Phụ lục V không có chức năng phủ định khả năng định danh vũ khí quân dụng theo Điểm d, Khoản 2, Điều 2. Ngược lại, Phụ lục V là bước xác định tiền đề kỹ thuật để sau đó, khi xét đến “mục đích sử dụng”, cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá khả năng áp dụng Điểm d, Khoản 2, Điều 2.
Điều 304 – Bộ luật Hình sự quy định tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Điều 123 quy định tội “Giết người”; Điều 134 quy định tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”; Điều 55 quy định về “quyết định hình phạt” trong trường hợp phạm nhiều tội. Các quy định này phải được đọc, hiểu trong mối liên hệ với luật chuyên ngành mới, bởi khái niệm “vũ khí quân dụng” trong Điều 304 không thể tách rời định nghĩa của “Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ” đang có hiệu lực.
Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 304 và một số điều liên quan của Bộ luật Hình sự. Nghị quyết này giải thích hành vi “sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” là sử dụng vũ khí quân dụng mà “không có giấy phép” hoặc “không được phép” nhằm phát huy tính năng, tác dụng của vũ khí. Cần hiểu rằng “trái phép” không thể bị thu hẹp thành trường hợp duy nhất là thiếu giấy phép hành chính. Trong bối cảnh Điểm d, Khoản 2, Điều 2, Luật số 42/2024/QH15 đã định danh “dao có tính sát thương cao” là vũ khí quân dụng “khi được sử dụng” để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật, việc sử dụng công cụ đó vào mục đích bị pháp luật cấm đương nhiên là hành vi không được phép.
Đặc biệt, hệ thống hướng dẫn nghiệp vụ sau khi Luật số 42/2024/QH15 có hiệu lực cũng cần được đặt đúng vị trí. Công văn số 2982/VKSTC-V14 ngày 30/06/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Công văn số 4442/C01-P2 ngày 18/07/2025 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đều thể hiện hướng nhận thức rằng, đối với hành vi xảy ra từ ngày 01/01/2025, nếu người phạm tội sử dụng dao có tính sát thương cao để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật và đủ yếu tố cấu thành tội phạm, thì có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự về Điều 304 cùng với tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe tương ứng.
Gần hơn nữa, Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự cũng tiếp tục khẳng định hướng xử lý đối với hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm sức khỏe người khác. Dù các công văn này không phải văn bản quy phạm pháp luật, chúng là nguồn định hướng nghiệp vụ quan trọng, phản ánh yêu cầu thống nhất nhận thức trong giai đoạn đầu áp dụng đạo luật mới.
Ở đây cần hiểu cặn kẽ rằng: cho dù không có các công văn “hướng dẫn” này thì đạo luật mới Luật số 42/2024/QH15 cũng đã có hiệu lực thi hành.
4. So sánh với quy định cũ: điểm mới không thể bị kéo lùi về tư duy cũ.
Trước ngày 01/01/2025, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều, nhưng vẫn chưa thiết lập cơ chế định danh “dao có tính sát thương cao” là vũ khí quân dụng trong trường hợp được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật. Khi đó, trong nhiều vụ án, dao thường được nhìn nhận chủ yếu như hung khí nguy hiểm, công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tình tiết có ý nghĩa định khung, định lượng trách nhiệm hình sự ở tội danh xâm phạm tính mạng, sức khỏe.
Từ ngày 01/01/2025, Luật số 42/2024/QH15 đã tạo ra thay đổi đáng kể. Đạo luật mới không chỉ liệt kê các loại vũ khí quân dụng theo nghĩa truyền thống, mà còn quy định một số công cụ, trong đó có dao có tính sát thương cao, có thể được định danh là vũ khí quân dụng “khi được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người” trái pháp luật. Đây là điểm mới có tính chính sách hình sự và chính sách quản lý nhà nước rõ rệt. Nếu tiếp tục nhìn nhận “dao có tính sát thương cao” chỉ như “vật dụng sinh hoạt” hoặc chỉ như “phương tiện” thực hiện tội “Giết người”, thì sẽ kéo quy phạm mới trở lại lối tư duy cũ, làm mất ý nghĩa điều chỉnh độc lập của đạo luật mới tại Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15.
Dĩ nhiên, cũng cần khẳng định nguyên tắc không hồi tố bất lợi. Hành vi xảy ra trước ngày 01/01/2025 không thể bị xử lý theo hướng bất lợi hơn chỉ vì sau đó Luật số 42/2024/QH15 có hiệu lực. Nhưng đối với hành vi xảy ra từ ngày 01/01/2025 trở đi, việc áp dụng Điểm d, Khoản 2, Điều 2 là yêu cầu bình thường của nguyên tắc pháp chế, không phải là mở rộng tùy tiện trách nhiệm hình sự.
5. Bình luận các sai lầm trong lập luận của 02 bài viết.
5.1. Sai lầm thứ nhất: Tự bổ sung điều kiện ngoài luật về “mục đích ban đầu” khi mua, sở hữu hoặc chuẩn bị dao.
Cách tiếp cận của tác giả Nguyễn Hữu Hiệp có một ưu điểm bước đầu, đó là đã nhận thấy nhu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự và tránh cách hiểu máy móc. Tuy nhiên, tác giả lại đang hiểu sai và xem nhẹ vai trò rất quan trọng của cụm từ “sử dụng với mục đích…” đã được các nhà làm luật thiết kế trong điều luật hiện hành. Và, tiêu chí mà tác giả “đề xuất” lại không xuất phát từ chính điều luật; Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15 không yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng phải truy tìm “mục đích ban đầu” khi người phạm tội mua, sở hữu, cất giữ hoặc chuẩn bị dao. Quy phạm này đặt trọng tâm vào việc: Công cụ đó có phải là “dao có tính sát thương cao” theo khoản 6 Điều 2 hay không; và tại thời điểm hành vi xảy ra, nó có được “sử dụng với mục đích” xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật hay không?
Luật hiện hành đánh giá tính chất “vũ khí quân dụng” đối với dao có tính sát thương cao dựa trên mục đích của hành vi sử dụng tại thời điểm gây án.
Việc tự ý đưa thêm điều kiện “mục đích ban đầu khi có được dao” hoặc “dao phải bị cải tạo, thay đổi thiết kế” là cách thu hẹp phạm vi điều chỉnh của luật…bằng một tiêu chí ngoài luật. Trong khoa học pháp lý, có thể “thảo luận” về chính sách hình sự nên rộng hay nên hẹp, chế tài nên nặng hay nên nhẹ; Nhưng, khi “giải thích một quy phạm” đã được ban hành và đã có hiệu lực, thì không thể tự ý thêm điều kiện làm thay đổi cấu trúc điều luật. Nếu luật muốn giới hạn ở trường hợp “dao đã bị/được cải tạo” hoặc “được chuẩn bị ngay từ đầu để gây án”, thì luật đã hoàn toàn có thể được thiết kế để diễn đạt như vậy. Việc luật không đặt ra điều kiện ấy là một dữ kiện lập pháp phải được tôn trọng, tuân thủ.
Điểm cần nhấn mạnh là: “mục đích ban đầu khi mua dao” và “mục đích sử dụng dao” – tại thời điểm thực hiện hành vi – là hai vấn đề khác nhau. Một vật dụng có thể xuất hiện trong đời sống với công năng sinh hoạt bình thường, nhưng khi được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật, thì luật pháp có thể gắn cho nó một “địa vị pháp lý” đặc biệt. Luật số 42/2024/QH15 đã lựa chọn chính cách định danh này. Do đó, việc quay lại hỏi, con dao ban đầu được mua để thái thực phẩm, làm vườn hay phục vụ sinh hoạt gia đình, không phải là tiêu chí quyết định trong Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15.
5.2. Sai lầm thứ hai: Nhầm lẫn giữa chức năng Giám định tư pháp và Định tội danh.
Lập luận cho rằng cơ quan giám định chỉ kết luận vật chứng là “dao có tính sát thương cao” chứ không phải “vũ khí quân dụng”, từ đó không thể xử lý theo Điều 304, là lập luận sai lầm cơ bản về tố tụng. Giám định có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định đặc điểm, chủng loại, kích thước, cấu tạo và việc vật chứng có thuộc danh mục dao có tính sát thương cao hay không. Nhưng giám định không thay thế toàn bộ hoạt động định tội danh của cơ quan tiến hành tố tụng.
Nói cách khác, giám định có thể xác lập tiền đề kỹ thuật: Vật chứng là dao có tính sát thương cao theo danh mục do Bộ Công an ban hành. Từ tiền đề đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải tiếp tục đánh giá hành vi sử dụng cụ thể: dao đó có được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật hay không. Chỉ sau khi kết hợp hai lớp thông tin này mới có thể định danh pháp lý theo Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15. Vì vậy, việc yêu cầu kết luận giám định phải “gọi tên” vũ khí quân dụng trong mọi trường hợp là cách hiểu chưa đúng về quan hệ giữa giám định và định tội danh.
Hiểu một cách đơn giản, chức năng của cơ quan giám định kỹ thuật là xác định đặc điểm vật lý (nó là con dao nhọn, kích thước bao nhiêu – thuộc Phụ lục 5). Còn việc xác định nó là “Vũ khí quân dụng” là sự chuyển hóa về mặt pháp lý do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) quyết định căn cứ vào Điểm d, Khoản 2, Điều 2 của Luật, chứ không phải chờ giám định viên “gọi tên” thay cơ quan tố tụng.
Sai lầm này còn thể hiện ở việc “tuyệt đối hóa” Phụ lục I của Thông tư số 75/2024/TT-BCA. Phụ lục I là danh mục vũ khí quân dụng theo Điểm b, Khoản 2, Điều 2; còn Phụ lục V là danh mục “dao có tính sát thương cao” theo khoản 6 Điều 2. Và Điểm d, Khoản 2, Điều 2 lại chính là cầu nối giữa “dao có tính sát thương cao” và địa vị “vũ khí quân dụng” khi con dao đó có “mục đích sử dụng” đặc biệt. Do đó, không thể lấy việc “dao thuộc Phụ lục V” để phủ nhận khả năng áp dụng Điểm d, Khoản 2, Điều 2; làm như vậy là tách rời Phụ lục V khỏi chính điều luật mà nó phục vụ.
5.3. Sai lầm thứ ba: Thu hẹp chữ “trái phép” thành chuyện có hay không có giấy phép sử dụng dao sinh hoạt.
Một trong những lý do được nhắc đến trong luồng quan điểm không xử lý theo Điều 304 là: Không có cơ quan nào cấp phép sử dụng dao làm bếp, nên không thể nói người phạm tội “sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Lập luận này, nghe qua thì “có vẻ hợp lý” nếu chỉ nhìn con dao trong trạng thái sinh hoạt bình thường. Nhưng điểm mấu chốt của Luật số 42/2024/QH15 lại nằm ở chỗ: Con dao không bị xem là vũ khí quân dụng trong mọi hoàn cảnh; nó được xem xét trong địa vị pháp lý của vũ khí quân dụng khi thỏa mãn điều kiện luật định về “đặc tính và mục đích sử dụng”.
Vì vậy, “trái phép” ở đây không thể hiểu một cách hạn hẹp là thiếu một giấy phép sử dụng dao làm bếp. Vấn đề không phải là pháp luật có cấp giấy phép cho người dân dùng dao trong sinh hoạt hay không. Mà vấn đề là pháp luật có cho phép sử dụng “dao có tính sát thương cao” để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật hay không. Câu trả lời hiển nhiên là không. Khi luật đã định danh “hành vi sử dụng” đó trong mối liên hệ với “vũ khí quân dụng”, việc không có giấy phép hành chính riêng cho dao sinh hoạt không thể trở thành căn cứ để loại trừ Điều 304.
5.4. Sai lầm thứ tư: Xem dao chỉ là “phương tiện” thực hiện tội “Giết người”, từ đó loại trừ khách thể độc lập của Điều 304.
Bài viết của tác giả Hoàng Thùy Linh – Quân khu 7 – lập luận rằng, trong tình huống Nguyễn Văn A dùng dao tước đoạt tính mạng người khác, dao chỉ là “phương tiện” thực hiện tội “Giết người”; toàn bộ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã được phản ánh trong cấu thành tội “Giết người”. Đây là lập luận cần được phản biện trực diện.
Trong lý luận định tội danh, một hành vi khách quan duy nhất không phải lúc nào cũng chỉ có thể cấu thành một tội danh. Nếu hành vi ấy đồng thời xâm phạm nhiều khách thể khác nhau, thỏa mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành tội phạm độc lập và luật không quy định quan hệ hấp thụ hoặc loại trừ, thì có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự về nhiều tội danh. Vấn đề không nằm ở số lượng động tác vật lý, mà nằm ở cấu trúc pháp lý của hành vi: Hành vi ấy xâm phạm những khách thể nào, thỏa mãn những dấu hiệu cấu thành nào, và có quy phạm nào buộc phải hấp thụ tội này vào tội kia hay không?
Trong trường hợp đang bàn, tội “Giết người” bảo vệ trực tiếp quyền sống của con người. Tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” bảo vệ chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự và trật tự an toàn xã hội gắn với chế độ quản lý ấy. Hai khách thể này không trùng nhau. Khi người phạm tội dùng “dao có tính sát thương cao” để xâm phạm tính mạng con người trái pháp luật, hành vi có thể đồng thời làm phát sinh hậu quả đối với quyền sống và xâm phạm chế độ quản lý vũ khí mà Luật số 42/2024/QH15 đã thiết lập. Vì vậy, không thể chỉ nói “dao là phương tiện giết người” rồi loại trừ ngay khả năng áp dụng Điều 304.
Cần lưu ý thêm, không nên cho rằng người phạm tội phải có ý thức chủ quan riêng là “xâm phạm chế độ quản lý vũ khí” thì mới phạm tội theo Điều 304. Đối với tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, lỗi cố ý thể hiện ở việc chủ thể nhận thức được công cụ mình sử dụng và thực hiện hành vi sử dụng đó trái pháp luật. Pháp luật hình sự không đòi hỏi người phạm tội phải tự gọi tên trong ý nghĩ của mình rằng họ đang xâm phạm khách thể nào của Bộ luật Hình sự. Nếu yêu cầu như vậy, rất nhiều tội phạm có cấu thành độc lập sẽ trở nên khó xử lý một cách vô lý, bởi người phạm tội hiếm khi tự phân tích khách thể pháp lý trong khi thực hiện hành vi.
5.5. Sai lầm thứ năm: Dùng suy diễn chủ quan về nguy cơ “xử lý tràn lan” làm căn cứ để tự ý thu hẹp phạm vi điều chỉnh của quy phạm, phủ nhận ý chí lập pháp của Quốc hội.
Đồng ý rằng, nỗi lo xử lý tràn lan không phải là không có giá trị cảnh báo. Trong áp dụng pháp luật hình sự, mọi cách hiểu đều phải thận trọng để tránh mở rộng tùy tiện trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, thận trọng “không đồng nghĩa” với việc tự đặt thêm điều kiện ngoài luật để loại trừ một quy phạm mới, đã có hiệu lực thi hành. Cách phòng ngừa “xử lý tràn lan” đúng đắn là phải đối chiếu, kiểm tra chặt chẽ các điều kiện luật định: Hành vi xảy ra từ thời điểm luật có hiệu lực; vật chứng có thuộc danh mục “dao có tính sát thương cao” hay không; mục đích sử dụng có “nhằm” xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật hay không; tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe tương ứng có đủ yếu tố cấu thành hay không; và có căn cứ lỗi đối với hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng hay không.
Nếu thiếu một trong các điều kiện này thì không thể máy móc xử lý hai tội danh. Nhưng nếu các điều kiện đều được thỏa mãn, việc xử lý theo Điều 304 không phải là “tràn lan”, mà là hệ quả bình thường của quy phạm mới. Nói cách khác, vấn đề không phải là lựa chọn giữa “xử lý tràn lan” và “không xử lý theo Điều 304”; mà vấn đề là phải áp dụng đúng cấu trúc điều luật. Cách hiểu đúng, phải vừa ngăn ngừa việc mở rộng tùy tiện, vừa không làm triệt tiêu hiệu lực của Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15.
6. Quy định mới và cách hiểu đúng cần áp dụng.
Từ các phân tích trên, có thể xác lập các nguyên tắc nhận thức sau đây.
Thứ nhất, dao có tính sát thương cao không mặc nhiên là vũ khí quân dụng trong mọi hoàn cảnh. Nếu nó tồn tại, được sử dụng trong sinh hoạt, lao động, sản xuất hợp pháp thì không thể chỉ vì đặc tính sắc, nhọn mà gắn ngay địa vị vũ khí quân dụng. Đây là điểm cần khẳng định để tránh cách hiểu cực đoan theo hướng hình sự hóa mọi trường hợp sở hữu hoặc sử dụng dao trong đời sống.
Thứ hai, khi dao thuộc nhóm “dao có tính sát thương cao” theo danh mục do Bộ Công an ban hành và được sử dụng với “mục đích” xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật, thì Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15 cho phép định danh công cụ đó là “vũ khí quân dụng” trong bối cảnh hành vi cụ thể. Sự chuyển hóa ở đây là chuyển hóa về địa vị pháp lý gắn với mục đích sử dụng, không phải sự biến đổi về đặc tính vật lý của con dao.
Thứ ba, cơ quan giám định và cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau. Giám định làm rõ đặc tính, chủng loại và khả năng thuộc danh mục dao có tính sát thương cao. Cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá hành vi, mục đích sử dụng, lỗi, khách thể bị xâm phạm và cấu thành tội phạm. Không thể yêu cầu kết luận giám định thay thế toàn bộ quá trình định tội danh; nhưng cũng không thể bỏ qua giám định khi cần xác định tiền đề kỹ thuật của vật chứng.
Thứ tư, quan hệ giữa tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” không thể được giải quyết bằng một mệnh đề giản đơn rằng dao chỉ là “phương tiện” phạm tội. Cần xem xét đầy đủ hai khách thể khác nhau: quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người; và chế độ quản lý vũ khí, trật tự an toàn xã hội. Nếu hành vi thỏa mãn đầy đủ cấu thành của cả hai tội, thì có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự về cả hai tội và áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt chung.
Thứ năm, các hướng dẫn nghiệp vụ hiện nay, đặc biệt là Công văn số 2982/VKSTC-V14 ngày 30/06/2025, Công văn số 4442/C01-P2 ngày 18/07/2025 và Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026, đều cho thấy xu hướng nhận thức thống nhất: Không được phủ nhận Điều 304 chỉ vì dao vốn là vật dụng sinh hoạt hoặc vì dao là “phương tiện” thực hiện tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe.
Dù các công văn không thay thế văn bản quy phạm pháp luật, nhưng chúng củng cố, hướng dẫn, giải thích cách hiểu đúng và phù hợp với chính câu chữ và cấu trúc của Luật số 42/2024/QH15 – là điều luật mới, đã có hiệu lực thi hành (Và điều quan trọng là, hiệu lực thi hành của Luật này không phụ thuộc vào sự tồn tại và hướng dẫn của các công văn nêu trên).
7. Tác động tiêu cực của cách hiểu sai, nếu được phổ biến rộng.
Một quan điểm cá nhân trong trao đổi học thuật, nếu chỉ dừng ở phạm vi thảo luận hẹp, có thể có tác động hạn chế. Nhưng khi quan điểm ấy được công bố trên một tạp chí chuyên ngành có uy tín, nó có thể ảnh hưởng đến nhận thức của độc giả pháp lý, người nghiên cứu, người tiến hành tố tụng và người học luật. Vì vậy, việc phản biện không nhằm công kích cá nhân các tác giả, mà nhằm bảo vệ “tính nghiêm cẩn” của diễn đàn khoa học pháp lý.
Nếu cách hiểu của 02 bài viết nêu trên được chia sẻ và chấp nhận một cách rộng rãi, thì “Hệ quả đầu tiên” là Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15 có nguy cơ bị thu hẹp đến mức gần như mất hiệu lực trong chính nhóm hành vi mà nó được thiết kế để điều chỉnh. Chỉ cần lập luận rằng dao là vật dụng sinh hoạt, người phạm tội không mua dao ngay từ đầu để gây án, hoặc dao chỉ là phương tiện thực hiện tội “Giết người”, thì Điều 304 sẽ bị gạt ra ngoài. Khi đó, một quy phạm mới được ban hành nhằm tăng cường quản lý và xử lý hành vi sử dụng “dao có tính sát thương cao” để xâm phạm tính mạng, sức khỏe sẽ bị vô hiệu hóa bằng chính cách diễn giải sai của người áp dụng luật.
Hệ quả thứ hai, sẽ là sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật. Cùng một hành vi xảy ra sau ngày 01/01/2025, có nơi có thể xem xét đồng thời Điều 304 và tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe; có nơi lại chỉ xử lý tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe với lý do dao chỉ là “phương tiện” phạm tội. Sự thiếu thống nhất này không chỉ ảnh hưởng đến công bằng hình sự, mà còn làm giảm tính dự báo của pháp luật.
Hệ quả thứ ba, là làm sai lệch thông điệp lập pháp của Luật số 42/2024/QH15. Điểm mới của đạo luật không phải là “hình sự hóa dao sinh hoạt”, mà là thiết lập cơ chế xử lý đối với việc “sử dụng dao có tính sát thương cao” vào mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật. Nếu không phân biệt được 02 trạng thái pháp lý này, người đọc sẽ rơi vào một trong hai cực đoan: Hoặc lo sợ rằng mọi con dao sinh hoạt đều là vũ khí quân dụng, hoặc phủ nhận hoàn toàn khả năng “dao có tính sát thương cao” trở thành vũ khí quân dụng trong bối cảnh phạm tội. Cả hai cực đoan đều không đúng.
8. Kết luận.
Từ việc rà soát kỹ nội dung của 02 bài viết nêu trên, đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành và hệ thống văn bản hướng dẫn nghiệp vụ có liên quan, có thể khẳng định: “vướng mắc” trong vấn đề này không nằm chủ yếu ở câu chữ của Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15. Tự thân quy phạm vốn không tạo ra “vướng mắc”, nó đã thể hiện rõ cấu trúc điều chỉnh: Dao có tính sát thương cao, khi được “sử dụng với mục đích” xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật, phải được đặt trong phạm vi “vũ khí quân dụng”. Vướng mắc, nếu có, là do cách hiểu không đúng của người tiếp cận và diễn giải quy phạm.
Bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Hiệp có điểm đáng ghi nhận là đã bước đầu nhận diện nhu cầu phân hóa và tránh áp dụng máy móc. Tuy nhiên, việc tự ý đưa thêm tiêu chí về mục đích ban đầu khi mua, sở hữu hoặc chuẩn bị dao, cũng như việc đòi hỏi dao phải bị cải tạo, là sự bổ sung “điều kiện ngoài luật” và làm thu hẹp sai “phạm vi” của Điểm d, Khoản 2, Điều 2 – Luật số 42/2024/QH15.
Bài viết của tác giả Hoàng Thùy Linh lại còn đi xa hơn, khi phủ nhận khả năng xử lý theo Điều 304 trên cơ sở cho rằng dao “chỉ là phương tiện” thực hiện tội “Giết người” và vật chứng “thuộc Phụ lục V” chứ không thuộc Phụ lục I. Cách hiểu này chưa phân biệt đúng giữa định danh kỹ thuật và định danh pháp lý, cũng như chưa đặt đúng quan hệ giữa hai khách thể độc lập được Bộ luật Hình sự bảo vệ.
Quan điểm phù hợp hơn với câu chữ, cấu trúc quy phạm và định hướng nghiệp vụ hiện hành là: Đối với hành vi xảy ra từ ngày 01/01/2025, nếu người phạm tội sử dụng dao thuộc nhóm “dao có tính sát thương cao” để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật, thì cần xem xét đầy đủ khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo Điều 304 Bộ luật Hình sự và tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe tương ứng, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Việc xem xét này không phải là xử lý hai lần đối với cùng một tội phạm, mà là đánh giá một hành vi trong tương quan với nhiều khách thể bị xâm phạm và nhiều cấu thành tội phạm độc lập.
Bài viết này không nhằm mục đích và cũng không chỉ đọng lại ở việc tán đồng hay không tán đồng quan điểm của một tác giả cụ thể. Giá trị của nó nhằm hướng đến khả năng làm sáng tỏ quy phạm, bảo vệ tính chính xác của lập luận pháp lý và góp phần thống nhất nhận thức áp dụng pháp luật. Trên tinh thần đó, cần khắc phục những ngộ nhận trong việc định tội danh đối với hành vi “sử dụng dao có tính sát thương cao” khi gây án, để Luật số 42/2024/QH15 được hiểu đúng, áp dụng đúng và phát huy trọn vẹn giá trị điều chỉnh mà các nhà làm luật đã thiết kế trong quy phạm.
Tài liệu, căn cứ viện dẫn:
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2. Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024, Luật số 42/2024/QH15, được Quốc hội ban hành ngày 29/06/2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025.
3. Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
4. Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 304, 305, 306, 307 và 308 của Bộ luật Hình sự.
5. Công văn số 2982/VKSTC-V14 ngày 30/06/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc trao đổi quan điểm giải quyết vụ việc, vụ án khi Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 có hiệu lực thi hành.
6. Công văn số 4442/C01-P2 ngày 18/07/2025 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an về việc giải đáp khó khăn, vướng mắc trong giải quyết vụ việc, vụ án khi Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025.
7. Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự.
(*) Bài viết thể hiện quan điểm độc lập của tác giả và đã được đối chiếu kỹ lưỡng với các quy định pháp luật liên quan ở thời điểm hiện tại. Tác giả giữ toàn bộ bản quyền bài viết. Mọi hành vi sao chép, trích dẫn, tái sử dụng một phần hoặc toàn bộ nội dung bài viết này cần phải có sự đồng ý chính thức bằng văn bản của tác giả.
