Tổ chức hành nghề luật sư ký Hợp đồng “Cộng Tác” với luật sư để né đóng bảo hiểm xã hội: Có tồn tại cơ sở pháp lý hay không?

Thời gian hiện tại:

1. Đặt vấn đề.

Trong thực tiễn hành nghề hiện nay, không hiếm trường hợp một tổ chức hành nghề luật sư và một luật sư ký với nhau văn bản mang tên “hợp đồng cộng tác”, “hợp đồng hợp tác”, “hợp đồng khoán việc”, thậm chí còn ghép nhiều nhãn gọi khác nhau vào cùng một văn bản. Cách đặt tên ấy thường được biện minh bằng hai lý do: một là tạo “tính linh hoạt” trong quản trị nhân sự; hai là vì “luật không cấm”. Tuy nhiên, nếu nhìn vấn đề dưới lăng kính hệ thống của Luật Luật sư, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, pháp luật thuế và cả pháp luật hình sự, thì câu hỏi cần đặt ra không phải là các bên đã đặt tên gì cho hợp đồng, mà là pháp luật hiện hành có thừa nhận hay không một hình thức hành nghề độc lập mang tên “luật sư cộng tác với tổ chức hành nghề luật sư” để từ đó loại trừ quan hệ lao động và né nghĩa vụ bảo hiểm xã hội.

Đây là điểm phải tách bạch ngay từ đầu. Pháp luật dân sự có thể cho phép các chủ thể giao kết nhiều loại giao dịch; nhưng Luật Luật sư là luật chuyên ngành, điều chỉnh một nghề có điều kiện, có chế độ quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp chặt chẽ. Khi luật chuyên ngành đã xác lập các hình thức hành nghề và điều kiện hành nghề của luật sư theo một cấu trúc khép kín, thì không thể chỉ bằng sự thỏa thuận đặt tên hợp đồng mà tự tạo ra một “ngôi thứ ba” nằm ngoài những hình thức đó. Cũng không thể dùng tên gọi “cộng tác” để che khuất một quan hệ thực chất là lao động nhằm né tránh chế độ của Bộ luật Lao động và nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

(Hình ảnh chỉ mang tính minh họa)

Trong bài viết này, tôi tiếp cận vấn đề theo phương pháp “bình luận khoa học pháp lý”, tức là không dừng ở việc đọc riêng lẻ từng điều luật, mà đặt toàn bộ các quy phạm liên quan vào đúng trật tự điều chỉnh của chúng: Luật Luật sư trả lời câu hỏi luật sư được hành nghề theo những hình thức nào; Bộ luật Dân sự trả lời giới hạn của quyền tự do thỏa thuận; Bộ luật Lao động trả lời khi nào một quan hệ bị pháp luật nhìn nhận là quan hệ lao động, bất chấp tên gọi do các bên tự đặt; Luật Bảo hiểm xã hội quy định chủ thể nào bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội và nghiêm cấm hành vi chậm đóng, trốn đóng; Luật Doanh nghiệp xác định quyền tự chủ của doanh nghiệp nhưng trong giới hạn pháp luật; pháp luật thuế xác định bản chất chi trả nào là tiền lương, tiền công, tiền thù lao và điều kiện để các khoản chi được tính vào chi phí được trừ; pháp luật hình sự đặt ra ngưỡng chế tài đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội khi đủ yếu tố cấu thành.

2. Luật Luật sư chỉ thiết kế hai hình thức hành nghề của luật sư, không có hình thức thứ ba mang tên “cộng tác”.

Điểm xuất phát bắt buộc phải trở lại Điều 23 Luật Luật sư, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012. Điều luật này quy định luật sư được lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề: hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư; hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo Điều 49 của Luật này. Cấu trúc điều luật ở đây có ý nghĩa quyết định. Nhà làm luật không nói luật sư có ba hay bốn hình thức hành nghề; càng không dùng công thức mở để cho phép tự phát sinh các hình thức khác theo thỏa thuận dân sự. Luật chỉ thừa nhận đúng hai hình thức.

Trong hình thức thứ nhất, tức hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư, Điều 23 và các điều có liên quan cho thấy chỉ tồn tại hai cách thức pháp lý để luật sư đứng trong một tổ chức hành nghề luật sư: hoặc thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; hoặc làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư. Nói cách khác, trong nội hàm của hình thức hành nghề thứ nhất, pháp luật chỉ chừa ra hai địa vị: địa vị của chủ thể thành lập, tham gia thành lập; và địa vị của luật sư làm việc theo hợp đồng lao động.

Còn trong hình thức thứ hai, tức hành nghề với tư cách cá nhân, pháp luật cũng không tạo ra trạng thái “tự do tuyệt đối”. Khoản 1 Điều 49 Luật Luật sư quy định luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư. Điều 50 tiếp tục yêu cầu luật sư hành nghề với tư cách cá nhân phải đăng ký hành nghề tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà mình là thành viên; hồ sơ đăng ký phải có bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao Thẻ luật sư và bản sao hợp đồng lao động ký với cơ quan, tổ chức. Sau khi được cấp Giấy đăng ký hành nghề luật sư, trong thời hạn 07 ngày làm việc, luật sư còn phải gửi thông báo kèm bản sao Giấy đăng ký này cho Đoàn luật sư mà mình là thành viên. Khoản 3 Điều 49 còn giới hạn rằng luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ các trường hợp ngoại lệ do luật định.

Từ đây có thể rút ra ba kết luận pháp lý nền tảng:

Thứ nhất, Luật Luật sư không thừa nhận một hình thức hành nghề độc lập mang tên “luật sư cộng tác với tổ chức hành nghề luật sư”.

Thứ hai, ngay cả hành nghề với tư cách cá nhân cũng vẫn phải gắn với hợp đồng lao động và cơ chế đăng ký hành nghề; nó không phải là một trạng thái “lang thang pháp lý”, nhận vụ việc tùy ý và phân tán tại nhiều đầu mối.

Thứ ba, nếu một luật sư đang được sử dụng như một luật sư làm việc thường xuyên trong một tổ chức hành nghề luật sư mà lại không rơi vào hai địa vị pháp lý nói trên, thì ngay ở tầng luật chuyên ngành đã xuất hiện lỗ hổng không thể che đậy bằng tên gọi hợp đồng.

3. Pháp luật không cấm tuyệt đối việc tổ chức hành nghề luật sư ký một hợp đồng dân sự có tên “cộng tác” với một cá nhân; nhưng điều đó khác hoàn toàn với việc thừa nhận “cộng tác” là một hình thức hành nghề luật sư.

Cần thừa nhận một cách khách quan rằng Luật Luật sư không có một điều khoản nào viết theo kiểu “tổ chức hành nghề luật sư bị cấm ký hợp đồng cộng tác viên với cá nhân”. Nếu câu hỏi chỉ dừng ở đó, thì câu trả lời là: không có một lệnh cấm tuyệt đối theo đúng nghĩa câu chữ.

Tuy nhiên, kết luận khoa học pháp lý không thể dừng ở mức “không thấy chữ cấm”. Bởi lẽ, trong lĩnh vực hành nghề luật sư, điều quan trọng không phải chỉ là có điều cấm hay không, mà là luật đã thiết kế những hình thức hành nghề nào, với địa vị pháp lý nào, và cho phép vận hành theo cơ chế nào. Một hợp đồng dân sự mang tên “cộng tác” có thể tồn tại giữa tổ chức hành nghề luật sư với một cá nhân cho những mục tiêu phụ trợ nhất định; nhưng từ sự tồn tại của một giao dịch dân sự không thể suy ra sự tồn tại của một hình thức hành nghề luật sư mới.

Phải nhấn mạnh thêm một điểm: nếu “cá nhân đó là luật sư”, thì tư cách luật sư của người đó cũng không tự động biến hợp đồng dân sự ấy thành “hợp đồng lao động của luật sư” hoặc “thời gian hành nghề được pháp luật công nhận”. Nói cách khác, xét từ góc độ dân sự đơn thuần, đó chỉ là quan hệ giữa một tổ chức hành nghề luật sư với một cá nhân. Việc cá nhân ấy có Thẻ luật sư không làm nảy sinh mặc nhiên địa vị “luật sư làm việc trong tổ chức” nếu thiếu hình thức hành nghề mà Luật Luật sư thừa nhận.

Đây chính là chỗ thực tiễn thường ngộ nhận. Nhiều người lẫn lộn giữa hai vấn đề hoàn toàn khác nhau: một là khả năng tồn tại của một giao dịch dân sự về mặt hình thức; hai là khả năng giao dịch đó được pháp luật công nhận như căn cứ xác lập một trạng thái hành nghề luật sư hợp pháp. Vấn đề của bài viết này nằm ở tầng thứ hai. Và ở tầng đó, câu trả lời phải là: không.

4. Bộ luật Dân sự thừa nhận quyền tự do thỏa thuận, nhưng không cho phép dùng hợp đồng dân sự để tạo ra một hình thức hành nghề luật sư mới hoặc để lẩn tránh quy phạm bắt buộc của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội.

Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; Điều 117 quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự; Điều 123 quy định giao dịch dân sự vô hiệu khi có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Những quy định này cho thấy pháp luật dân sự tôn trọng quyền tự do định đoạt của các chủ thể, nhưng đồng thời cũng xác lập ranh giới rất rõ: tự do thỏa thuận không phải là quyền năng vô hạn.

Áp dụng vào chủ đề đang bàn, có thể thấy: pháp luật dân sự không cấm các bên dùng tên gọi “hợp đồng cộng tác”; nhưng quyền đặt tên đó không thể tạo ra hậu quả pháp lý vượt ra ngoài những gì hệ thống pháp luật chuyên ngành cho phép. Càng không thể vì các bên chọn tên “cộng tác” mà làm phát sinh một hình thức hành nghề luật sư mới ngoài Điều 23, Điều 49 và Điều 50 Luật Luật sư. Quyền tự do thỏa thuận cũng không thể được dùng để “rửa” một quan hệ thực chất là lao động thành quan hệ dân sự nếu nội dung vận hành thực tế mang đầy đủ dấu hiệu của quan hệ lao động.

Do đó, nếu tổ chức hành nghề luật sư lập luận rằng “đây chỉ là giao dịch dân sự nên không bị Luật Luật sư hay pháp luật lao động chi phối”, thì lập luận ấy bỏ qua nguyên tắc cơ bản của trật tự pháp lý: một giao dịch không được tách khỏi bản chất và mục đích điều chỉnh của nó. Giao dịch dân sự không thể trở thành vỏ bọc để vận hành một quan hệ mà pháp luật chuyên ngành đã thiết kế bằng một cơ chế khác và gắn cho nó những nghĩa vụ bắt buộc khác.

5. Bộ luật Lao động nhìn vào bản chất quan hệ, không nhìn vào nhãn dán của hợp đồng.

Điểm xuyên thấu quan trọng nhất nằm ở Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019. Điều luật này quy định: hợp đồng lao động là sự thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động; trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn được coi là hợp đồng lao động.

Đây là một mệnh đề pháp lý cực kỳ mạnh. Nó có nghĩa rằng tên gọi “hợp đồng cộng tác”, “hợp đồng hợp tác”, “hợp đồng khoán việc”, “thỏa thuận dịch vụ” chỉ là lớp vỏ. Cơ quan có thẩm quyền, khi giải quyết tranh chấp hoặc kiểm tra, thanh tra, sẽ đi thẳng vào ba yếu tố cốt lõi: có việc làm; có trả công hoặc tiền lương; có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên hay không.

Áp dụng vào quan hệ giữa tổ chức hành nghề luật sư và luật sư, nếu cái gọi là “hợp đồng cộng tác” thể hiện hoặc được thực hiện trên thực tế theo các dấu hiệu như sau: luật sư làm việc thường xuyên cho tổ chức; chịu phân công hồ sơ, kiểm soát tiến độ, đánh giá kết quả; chịu điều hành của Giám đốc hoặc Trưởng văn phòng; làm việc tại trụ sở hoặc theo lịch công tác do tổ chức bố trí; nhận tiền định kỳ hoặc tiền theo vụ việc nhưng phụ thuộc vào sự phân công và nghiệm thu của tổ chức; bị ràng buộc bởi nội quy, quy chế, kỷ luật nội bộ; sử dụng thương hiệu, cơ sở vật chất, bộ máy hỗ trợ, khách hàng, quy trình nghiệp vụ của tổ chức; thì tên gọi “cộng tác” không còn giá trị quyết định. Khi ấy, về phương diện pháp lý lao động, quan hệ có thể bị xác định lại là quan hệ lao động.

Điều 21 Bộ luật Lao động còn quy định hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu như công việc, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng, mức lương, hình thức trả lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng. Vì vậy, một văn bản mang tên “cộng tác” nhưng lại chứa đầy đủ hoặc phần lớn nội dung cốt lõi của Điều 21, đồng thời kèm theo cơ chế quản lý, điều hành, giám sát, sẽ càng làm mạnh thêm khả năng bị pháp luật nhìn nhận là hợp đồng lao động trá hình.

Nói cách khác, ở tầng pháp luật lao động, việc “đổi tên hợp đồng” không có giá trị giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ bắt buộc nếu bản chất của quan hệ không đổi.

6. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 tiếp tục xuyên thấu tên gọi của hợp đồng và nghiêm cấm hành vi chậm đóng, trốn đóng.

Nếu Điều 13 Bộ luật Lao động là cánh cửa xuyên qua lớp nhãn dán của hợp đồng, thì Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 là quy phạm nối thẳng từ bản chất quan hệ lao động sang nghĩa vụ bảo hiểm xã hội. Điểm a khoản 1 Điều 2 quy định người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Khoản 3 Điều 2 xác định người sử dụng lao động bao gồm cả doanh nghiệp, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động. Điều 9 nghiêm cấm hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Ghép Điều 13 Bộ luật Lao động với Điều 2 và Điều 9 Luật Bảo hiểm xã hội, có thể thấy ý chí lập pháp rất rõ: pháp luật không chấp nhận việc các chủ thể bằng kỹ thuật đặt tên hợp đồng để né tránh chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nếu quan hệ thực chất là lao động, thì nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội phát sinh theo bản chất của quan hệ đó.

Bởi vậy, nếu một tổ chức hành nghề luật sư dùng “hợp đồng cộng tác” để sử dụng một luật sư như người lao động thường xuyên nhưng không đăng ký, không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì lập luận “đây không phải hợp đồng lao động” sẽ không đủ sức tự bảo vệ trước Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Tên gọi “cộng tác” không chặn được hậu quả pháp lý nếu cấu trúc của quan hệ đã rơi đúng vào mô hình mà Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội mô tả.

7. Từ góc độ Luật Luật sư, chiến lược né bảo hiểm xã hội bằng “hợp đồng cộng tác” còn có thể phản tác dụng ngay đối với chính luật sư.

Điểm đáng chú ý là vấn đề không dừng ở rủi ro của tổ chức hành nghề luật sư. Bản thân luật sư cũng có thể chịu hậu quả pháp lý nếu đứng lâu dài trong trạng thái không thuộc bất kỳ hình thức hành nghề hợp pháp nào mà Luật Luật sư thừa nhận.

Điểm đ khoản 1 Điều 18 Luật Luật sư quy định: người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư mà không thành lập, tham gia thành lập hoặc làm việc theo hợp đồng lao động cho một tổ chức hành nghề luật sư, hoặc không đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân, trong thời hạn 03 năm kể từ ngày gia nhập Đoàn luật sư thì bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư. Khoản 5 Điều 20 còn quy định: trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Thẻ luật sư, nếu luật sư không làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư, không hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức, hoặc không thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư thì Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư xóa tên khỏi danh sách luật sư và đề nghị Liên đoàn Luật sư Việt Nam thu hồi Thẻ luật sư.

Từ đây xuất hiện một nghịch lý rất đáng nói. Nhiều trường hợp tưởng rằng chọn “hợp đồng cộng tác” là để vừa né bảo hiểm xã hội, vừa tránh nghĩa vụ của hợp đồng lao động, vừa giữ được “thời gian làm nghề”. Nhưng nếu sự “cộng tác” đó không đưa luật sư vào một trong các hình thức hành nghề mà Luật Luật sư công nhận, thì chính luật sư lại có nguy cơ rơi vào trường hợp bị xử lý theo Điều 18 và Điều 20. Nói cách khác, sự linh hoạt tưởng tượng trong ngắn hạn có thể chuyển hóa thành sự đổ vỡ địa vị nghề nghiệp trong dài hạn.

8. Điều kiện 02 năm hành nghề liên tục để thành lập tổ chức hành nghề luật sư càng cho thấy “cộng tác” không phải là hình thức hành nghề được công nhận.

Điểm a khoản 3 Điều 32 Luật Luật sư quy định luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất 02 năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật này.

Quy định này có giá trị như một phép thử lập luận. Nếu “cộng tác với tổ chức hành nghề luật sư” thực sự là một hình thức hành nghề hợp pháp, thì pháp luật phải thừa nhận thời gian đó là thời gian hành nghề liên tục để thành lập tổ chức hành nghề luật sư. Nhưng điều luật không hề làm như vậy. Nó chỉ thừa nhận đúng hai loại thời gian: thời gian làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư; và thời gian hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức.

Vì thế, quan điểm cho rằng luật sư ký “hợp đồng cộng tác” với tổ chức hành nghề luật sư vẫn có thể dùng thời gian đó để tính điều kiện 02 năm là một quan điểm có cơ sở pháp lý rất yếu. Đúng hơn phải nói rằng: nếu quan hệ thực chất là lao động, thì pháp luật có thể xuyên thấu và coi đó là hợp đồng lao động; còn nếu quan hệ chỉ là dân sự thuần túy, thì nó không nằm trong hai loại thời gian mà Điều 32 công nhận.

Đây cũng là lý do vì sao trong thực tiễn nhiều luật sư, dù ký các loại hợp đồng mang tên “cộng tác”, vẫn có một mục tiêu tối thượng là được công nhận thời gian hành nghề. Nhưng mục tiêu ấy chỉ có thể đạt được nếu quan hệ của họ thực sự phù hợp với một trong các hình thức hành nghề mà Luật Luật sư quy định, chứ không thể dựa vào một văn bản dân sự chỉ vì trong đó người ký là một người có Thẻ luật sư.

9. Điều 39 Luật Luật sư cũng cho thấy nhà làm luật phân biệt rất rõ giữa “thuê luật sư” và “hợp tác với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài”.

Khoản 3 Điều 39 Luật Luật sư quy định tổ chức hành nghề luật sư được thuê luật sư Việt Nam, luật sư nước ngoài và nhân viên làm việc cho tổ chức mình. Khoản 5 Điều 39 quy định tổ chức hành nghề luật sư được hợp tác với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Hai quy định này đặc biệt quan trọng ở phương diện giải thích hệ thống. Nhà làm luật dùng hai động từ khác nhau cho hai quan hệ khác nhau: “thuê” đối với luật sư; “hợp tác” đối với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.

Sự lựa chọn ngôn từ ấy không phải ngẫu nhiên. Nó phản ánh nhận thức lập pháp rằng quan hệ giữa tổ chức hành nghề luật sư với luật sư làm việc cho mình thuộc logic thuê mướn, sử dụng lao động hoặc sử dụng nhân sự nghề nghiệp; còn “hợp tác” được đặt cho quan hệ giữa hai chủ thể tổ chức hành nghề. Từ đó càng khó có cơ sở để suy luận rằng pháp luật ngầm thừa nhận một mô hình “tổ chức hành nghề luật sư hợp tác với luật sư” như một hình thức hành nghề độc lập.

10. Luật Doanh nghiệp trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, nhưng không cho phép doanh nghiệp tự tạo ra một cơ chế sử dụng luật sư trái với luật chuyên ngành và pháp luật lao động.

Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thừa nhận doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm; có quyền chủ động tìm kiếm khách hàng, ký kết hợp đồng; tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh. Điều 12 quy định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch. Những quy định này xác lập quyền tự chủ của doanh nghiệp trong quản trị và giao kết.

Tuy nhiên, quyền tự chủ ấy luôn bị giới hạn bởi luật chuyên ngành và các quy phạm bắt buộc khác. Công ty luật là một loại hình doanh nghiệp đặc thù hoạt động trong khuôn khổ Luật Luật sư; do đó, quyền tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo Luật Doanh nghiệp không thể được hiểu thành quyền tự tạo ra một hình thức hành nghề luật sư mới. Cũng không thể hiểu rằng chỉ cần người đại diện theo pháp luật của công ty ký một hợp đồng mang tên “cộng tác” thì hợp đồng ấy mặc nhiên loại trừ sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội hoặc Luật Luật sư.

Nói cách khác, Luật Doanh nghiệp tạo hành lang cho doanh nghiệp hoạt động; nhưng hành lang ấy không xóa bỏ những chốt chặn do luật chuyên ngành và pháp luật lao động dựng lên.

11. Hệ quả về thuế: nếu bản chất là lao động, khoản chi trả cho luật sư không thể tùy ý được ngụy trang thành một chi phí dân sự.

Nhìn từ pháp luật thuế, việc cố tình đặt tên “cộng tác” cho một quan hệ thực chất là lao động cũng tạo ra rủi ro đáng kể.

Về thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 quy định tại khoản 2 Điều 3 rằng thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm tiền lương, tiền công, tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền và các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công. Điều 8 của Luật này quy định thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định trên thu nhập tính thuế sau khi trừ các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc và các khoản giảm trừ theo luật. Như vậy, về nguyên tắc, nếu tổ chức hành nghề luật sư chi trả cho luật sư một khoản có bản chất là tiền công, tiền lương, thù lao trong quan hệ lao động, thì cơ quan thuế có cơ sở nhìn khoản chi đó theo bản chất thu nhập từ tiền lương, tiền công.

Về thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 và Nghị định số 320 năm 2025 của Chính phủ đặt ra điều kiện chặt chẽ đối với chi phí được trừ, đặc biệt là các khoản chi cho người lao động. Khoản 8 Điều 10 Nghị định số 320 năm 2025 quy định các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng đã hạch toán vào chi phí nhưng thực tế không chi trả hoặc không có chứng từ thanh toán theo quy định thì không được trừ; đồng thời các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng cho người lao động không được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, quy chế tài chính hoặc quy chế thưởng thì cũng không được trừ. Điều đó có nghĩa là, một khi quan hệ thực chất là lao động, doanh nghiệp không thể vừa né chế độ bảo hiểm xã hội, vừa né khuôn khổ hồ sơ tiền lương, tiền thưởng, vừa vẫn kỳ vọng khoản chi của mình đương nhiên được tính vào chi phí hợp lý.

Nói ngắn gọn, việc làm mờ bản chất quan hệ không chỉ đẩy rủi ro sang phía lao động và bảo hiểm xã hội; nó còn có thể quay ngược lại làm yếu chính vị thế của doanh nghiệp trong kê khai, khấu trừ, quyết toán thuế.

12. Pháp luật hình sự không tự động hình sự hóa mọi trường hợp, nhưng đã dựng sẵn hàng rào cuối cùng đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội.

Từ góc độ hình sự, cần giữ thái độ chuẩn xác: không phải cứ ký “hợp đồng cộng tác” thay cho hợp đồng lao động là tự động cấu thành tội phạm. Pháp luật hình sự chỉ can thiệp khi hành vi đạt đủ các dấu hiệu cấu thành do luật định. Tuy nhiên, việc không đương nhiên cấu thành tội phạm không có nghĩa là hoàn toàn vô hại.

Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Nghị quyết số 05 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 214, Điều 215 và Điều 216 Bộ luật Hình sự, trong đó làm rõ cách hiểu về hành vi “không đóng”, “không đóng đầy đủ”, điều kiện xử lý và một số dấu hiệu pháp lý liên quan.

Do đó, trong trường hợp một tổ chức hành nghề luật sư cố tình sử dụng lớp vỏ “cộng tác” để che một quan hệ thực chất là lao động, kéo dài việc không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động, thì rủi ro pháp lý không chỉ dừng ở tranh chấp dân sự hay xử phạt hành chính. Khi hành vi thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu của Điều 216 Bộ luật Hình sự theo hướng dẫn của Nghị quyết số 05 năm 2019, chế tài hình sự hoàn toàn có thể được đặt ra.

Cách nói đúng về mặt khoa học pháp lý phải là: “hợp đồng cộng tác” không tự động dẫn đến trách nhiệm hình sự; nhưng nếu nó là công cụ để che giấu và thực hiện hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội với đầy đủ yếu tố cấu thành, thì chính lớp vỏ hợp đồng đó không ngăn được sự vận hành của Điều 216 Bộ luật Hình sự.

13. Phản biện một số lập luận thường được dùng để bảo vệ “hợp đồng cộng tác”.

Thứ nhất, lập luận rằng “luật không cấm thì được làm”.

Lập luận này chỉ đứng được trong không gian tự do thuần túy của giao dịch dân sự thông thường. Còn trong lĩnh vực luật sư, đây là lĩnh vực hành nghề có điều kiện, có cơ chế quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp. Ở đây, câu hỏi không chỉ là “có cấm hay không”, mà là “luật đã thiết kế hình thức hành nghề nào và có dành chỗ cho mô hình này hay không”. Khi Điều 23 đã khép lại ở hai hình thức hành nghề, thì việc dùng nguyên tắc “không cấm thì được” để dựng ra hình thức thứ ba là một bước nhảy suy luận không được luật cho phép.

Thứ hai, lập luận rằng “đây chỉ là hợp đồng dân sự linh hoạt, không phải quan hệ lao động”.

Lập luận này bỏ qua Điều 13 Bộ luật Lao động và Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Cả hai quy phạm này đều nhìn vào bản chất của việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát. Nếu ba yếu tố ấy có mặt, thì việc các bên gọi hợp đồng là gì không còn là yếu tố quyết định.

Thứ ba, lập luận rằng “dù là cộng tác nhưng luật sư vẫn đang làm nghề nên thời gian ấy phải được công nhận”.

Lập luận này xung đột trực diện với điểm a khoản 3 Điều 32 Luật Luật sư. Nhà làm luật chỉ công nhận hai loại thời gian hành nghề liên tục để thành lập tổ chức hành nghề luật sư. Không có bất kỳ câu chữ nào thừa nhận “thời gian cộng tác dân sự với tổ chức hành nghề luật sư” là căn cứ tương đương.

Thứ tư, lập luận rằng “nếu luật sư có Thẻ luật sư thì đương nhiên quan hệ với tổ chức hành nghề luật sư phải được coi là quan hệ hành nghề”.

Lập luận này đánh tráo giữa tư cách cá nhân và địa vị pháp lý trong quan hệ cụ thể. Một người có Thẻ luật sư không đồng nghĩa mọi hợp đồng người đó ký với tổ chức hành nghề luật sư đều tự động là hợp đồng hành nghề hợp pháp. Pháp luật chỉ công nhận địa vị hành nghề khi quan hệ ấy rơi đúng vào hình thức mà luật đã quy định.

14. Kết luận.

Từ toàn bộ phân tích trên, có thể rút ra các kết luận sau đây:

Một là, Luật Luật sư hiện hành chỉ quy định hai hình thức hành nghề của luật sư: hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư; và hành nghề với tư cách cá nhân. Trong hình thức thứ nhất, luật sư hoặc thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư, hoặc làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư. Trong hình thức thứ hai, luật sư vẫn phải làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư và phải đăng ký hành nghề theo hình thức này tại Sở Tư pháp.

Hai là, không có cơ sở pháp lý để coi “luật sư cộng tác với tổ chức hành nghề luật sư” là một hình thức hành nghề độc lập được Luật Luật sư thừa nhận. Vì vậy, không thể viện dẫn “hợp đồng cộng tác” như một cơ sở pháp lý thay thế cho hợp đồng lao động trong trường hợp tổ chức hành nghề luật sư đang thực chất sử dụng luật sư như người làm việc thường xuyên cho mình.

Ba là, nếu cái gọi là “hợp đồng cộng tác” thực chất mang đầy đủ dấu hiệu của quan hệ lao động, thì theo Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, quan hệ đó vẫn có thể bị xác định lại là hợp đồng lao động; và theo điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, kể cả trường hợp hợp đồng được đặt bằng tên gọi khác, nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc vẫn phát sinh nếu nội dung của quan hệ thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.

Bốn là, nếu quan hệ đó thực sự chỉ là quan hệ dân sự thuần túy, thì nó không phải là “hợp đồng lao động của luật sư”, không phải là hình thức hành nghề luật sư mà Luật Luật sư công nhận, không đương nhiên được dùng để tính thời gian hành nghề liên tục theo điểm a khoản 3 Điều 32, và càng không đủ để vô hiệu hóa rủi ro của chính luật sư theo điểm đ khoản 1 Điều 18 và khoản 5 Điều 20 Luật Luật sư.

Năm là, việc cố tình sử dụng lớp vỏ “cộng tác” để né đóng bảo hiểm xã hội không chỉ làm phát sinh rủi ro về lao động và bảo hiểm xã hội, mà còn kéo theo hệ quả về thuế, về tính hợp lệ của chi phí, về quản trị doanh nghiệp, và trong trường hợp đủ dấu hiệu cấu thành, còn có thể mở đường cho trách nhiệm hình sự theo Điều 216 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, trả lời thẳng câu hỏi ở tiêu đề bài viết: tổ chức hành nghề luật sư ký “hợp đồng cộng tác” với luật sư để né đóng bảo hiểm xã hội, xét dưới góc độ hệ thống pháp luật hiện hành, không có một cơ sở pháp lý vững chắc nào để tự hợp pháp hóa mô hình này. Hoặc đó là quan hệ lao động và phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, thuế và các chế tài tương ứng; hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự thuần túy và khi đó nó không thể trở thành một hình thức hành nghề luật sư hợp pháp thay thế.

15. Danh mục căn cứ pháp lý viện dẫn trong bài viết.

1. Bộ luật Dân sự năm 2015, đặc biệt các Điều 3, 117 và 123.

2. Bộ luật Lao động năm 2019, đặc biệt các Điều 13 và 21.

3. Luật Doanh nghiệp năm 2020, đặc biệt các Điều 7 và 12.

4. Luật Luật sư năm 2006, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012, đặc biệt các Điều 18, 20, 23, 32, 39, 49, 50 và 53.

5. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, đặc biệt các Điều 2 và 9.

6. Nghị định số 12 năm 2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

7. Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đặc biệt Điều 216.

8. Nghị quyết số 05 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 214, Điều 215 và Điều 216 của Bộ luật Hình sự.

9. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 và Nghị định số 320 năm 2025 của Chính phủ về các khoản chi cho người lao động và điều kiện chi phí được trừ.

10. Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025, đặc biệt khoản 2 Điều 3 và Điều 8 về thu nhập từ tiền lương, tiền công.

(Xem lại bài viết tại đây)

(*) Bài viết thể hiện quan điểm độc lập của tác giả và đã được đối chiếu kỹ lưỡng với các quy định pháp luật liên quan ở thời điểm hiện tại. Tác giả giữ toàn bộ bản quyền bài viết. Mọi hành vi sao chép, trích dẫn, tái sử dụng một phần hoặc toàn bộ nội dung bài viết này cần phải có sự đồng ý chính thức bằng văn bản của tác giả.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *